Thống kê truy cập
  • Đang online: 19
  • Hôm nay: 2251
  • Trong tuần: 23 680
  • Tất cả: 4475016
ĐIỀU NGỰ GIÁC HOÀNG TRẦN NHÂN TÔNG BẬC VUA HIỀN – ANH HÙNG TRONG KHÁNG CHIẾN GIỮ NƯỚC
Lượt xem: 196

Xuyên suốt lịch sử của dân tộc, có rất nhiều nhân vật với tư cách là người đứng đầu, đã tạo nên những kỳ tích đối với đất nước, có nhân vật nổi bật lên trong sự nghiệp giữ nước, có nhân vật nổi lên trong sự nghiệp dựng nước, lại có nhân vật nổi lên trong sự nghiệp mở nước hoặc có một số nhân vật có cả hai hoặc ba lĩnh vực đó. Trần Nhân Tông là một vị Hoàng đế mà sự nghiệp nổi bật hẳn trên cả ba lĩnh vực: dựng nước, giữ nước và mở nước.

Nhân dịp kỷ niệm 714 năm ngày đức Vua - Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn (1308 – 2022), chúng ta cùng nhìn lại những đóng góp to lớn của Ngài - một nhà chính trị xuất sắc, nhà quân sự tài ba, đệ nhất Tổ của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đối với quốc gia Đại Việt vào thế kỷ thứ XIII.

anh tin bai

Tượng đức Vua – Phật hoàng Trần Nhân Tông nhập Niết bàn

tại chùa Phổ Minh – phường Lộc Vượng – TP. Nam Định

Hoàng đế Trần Nhân Tông tên húy là Trần Khâm quê ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường (nay thuộc phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định). Ngài là con trưởng của Thánh Tông Trần Hoảng, mẹ là Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng Thái hậu, sinh ngày 7 tháng 12 năm 1258. Vua ở ngôi 15 năm (1278-1293), nhường ngôi cho con là Anh Tông lên làm Thái Thượng hoàng 5 năm (1293-1298), xuất gia đi tu (1293-1308) và viên tịch ngày 3 tháng 11 năm Mậu Thân (1308), thọ 51 tuổi.

Theo chế độ đặc biệt của vương triều Trần, vua cha là Trần Thánh Tông làm Thái Thượng hoàng cho đến khi mất năm 1290. Khi Vua Trần Nhân Tông nắm quyền trị vì cùng Thái Thượng Hoàng Trần Thánh Tông, cũng là thời gian Đại Việt phải đương đầu với thách thức vô cùng hiểm nguy, quyết định đến sự tồn vong của đất nước. Đó là cuộc xâm lược năm 1285 và năm 1288 của đế chế Nguyên Mông với số lượng quân viễn chinh huy động cao nhất và những thay đổi trong chiến lược quân sự nhằm quyết tâm đánh chiếm Đại Việt để mở đường bành trướng xuống các nước phía Nam.

Cần phải nói thêm, người Mông Cổ sống trên thảo nguyên bao la, việc cưỡi ngựa, bắn cung là sở trường và hầu như môi trường đã tạo ra ý chí quyết thắng. Người Mông Cổ mỗi khi bị thua một thế lực nào đó, thường họ không chịu khuất phục, có thể huy động toàn lực để trả thù. Nói cách khác, là dốc quân, nghiêng nước đánh báo thù.

Nhìn lại năm 1258, chống lại cuộc xâm lăng lần thứ nhất của đế chế Nguyên Mông, khi đó vua Trần Thái Tông và thân phụ của Hoàng đế Trần Nhân Tông đã nhanh chóng đánh bại mặc dù thế giặc rất mạnh, ba vạn quân kỵ tấn công như vũ bão, lúc đầu chúng ào ạt tiến đánh làm cho quân Trần thất thế, địch thừa thắng chiếm Thăng Long. Nhưng chỉ ít ngày sau, Vua Trần Thái Tông cùng Thái tử đã tiến quân phản công ở Đông Bộ Đầu, sau một trận quyết tử làm cho địch đại bại, khiến chúng hoảng loạn rút chạy về nước... Và từ đó, chúng nuôi ý chí phục thù. Bởi vậy giai đoạn Trần Nhân Tông ra đời và đến lúc trưởng thành, cũng là thời kỳ nhà Trần phải chuẩn bị đối phó với đế chế hùng mạnh này, nhất là từ năm 1279 Mông Cổ thôn tính Nam Tống, ngự trị cả một vùng rộng lớn, không chỉ tăng thêm lực lượng, còn áp sát biên giới nước ta, khiến tình thế ngày càng trở nên nguy cấp.

Nói đến thắng lợi của cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông, mọi người đều biết đến tài năng quân sự kiệt xuất và công lao to lớn của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn - một anh hùng dân tộc, một thiên tài quân sự đã được sử sách ghi nhận và nhân dân đời đời tôn vinh là "Đức Thánh Trần". Nhưng chúng ta không thể không nhắc đến vai trò của triều đình, đặc biệt là người đứng đầu - cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước: đó là vị Hoàng đế trẻ tuổi Trần Nhân Tông và Thượng hoàng Trần Thánh Tông. Vua Trần Nhân Tông, năm 1283, đã tiến phong Trần Quốc Tuấn làm "Quốc công tiết chế thống lĩnh thiên hạ chư quân sự". Cũng chính nhà Vua cùng Thái Thượng hoàng và triều đình, trên cương vị quản lý quốc gia đã lo chuẩn bị cho cả nước đánh giặc, toàn dân đánh giặc, lo phát triển kinh tế, củng cố an ninh, chính trị, xã hội, lo xây dựng lực lượng quân sự, tạo nên sức mạnh chiến thắng mà sau này Hưng Đạo Vương đã đúc kết trong di chúc của mình: “… Vua tôi đồng tâm, anh em hòa thuận, cả nước ra sức nên bọn giặc phải chịu bị bắt…”

Trong cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước, Vua Trần Nhân Tông cùng Thượng hoàng Trần Thánh Tông xứng đáng là những vị Vua anh hùng, đúng như trong bài phú Bạch Đằng Giang của Hàn Lâm học sĩ Trương HánSiêu đã viết:

… Anh minh hai vị thánh quân

Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh

Giặc tan ngàn thuở thanh bình

Tại đâu đất hiểm, bởi mình đức cao…

Vua Trần Nhân Tông tổ chức hội nghị Bình Than (tháng 10 – 1282) “họp với các vương hầu trăm quan, bàn về kế sách đánh giữ và chia đi đóng giữ những nơi hiểm yếu …” Triều đình còn mở hội nghị Diên Hồng (tháng 12 - 1284) để lấy ý kiến của các bô lão đại diện cho trăm họ khắp nơi trong đất nước, cân nhắc nên hoà hay nên đánh?

Các nhà lãnh đạo vương triều hẳn nhiên không muốn gây chuyện chết chóc, binh đao. Bởi ngoại xâm hung bạo sát hại sinh linh, mà muốn cứu sinh linh thì phải chiến đấu để bảo vệ. Đây là bản chất mang tính truyền thống của con người Đại Việt. Nhất là vương triều Trần lại tôn trọng ý dân, quan tâm đến đời sống của dân, như câu đối nhấn vữa ở sân đền Thiên Trường đã viết:                                                 “Dân vi bang bản thiên niên sách.

Công tại nhân tâm vạn cổ trường”

Dịch nghĩa: “Lấy dân làm gốc ngàn năm sách lược

Lòng người ghi tạc, muôn thủa còn lưu”

Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ 2 năm 1285, Đại Việt phải đương đầu với năm mươi vạn quân xâm lược do thái tử Thoát Hoan, cùng các tướng giỏi của nhà Nguyên ào ạt tấn công, quân dân nhà Trần đã thực hiện kế “thanh dã” (vườn không nhà trống) lui binh để bảo toàn lực lượng.

 Tuy tình thế khó khăn, nhưng Hoàng đế Nhân Tông vẫn sáng suốt tin tưởng ở sự tất thắng của chính nghĩa, tin ở sức mạnh đoàn kết: “Vua tôi đồng tâm”, tin ở phương châm chiến lược của Hưng Đạo đại vương “tránh lúc ban mai, đánh khi tàn lụi”. Dưới sự chỉ huy tài tình của hai Vua, cùng Quốc công Tiết chế Hưng Đạo đại vương, quân Trần vẫn bảo toàn được lực lượng, lại phản công thắng lớn ở Trường Yên ( Ninh Bình), Chương Dương, Hàm Tử, Tây Kết.

Ba năm sau, nhà Nguyên lại sai thái tử Thoát Hoan đem quân sang đánh báo thù. Cuộc chiến đấu chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ 3 năm 1288 này nhàn hơn, nhưng lần này địch cũng huy động 30 vạn quân, lại chuẩn bị lương thảo khá cẩn thận.

Quan quân triều Trần tiếp tục rút lui chiến lược, chờ thời cơ để phản công.

Đoàn thuyền chở 70 vạn hộc lương của giặc bị tướng Trần Khánh Dư đánh bại, sau đó Hưng Đạo đại vương bố trí trận địa tại sông Bạch Đằng tiêu diệt 400 chiến thuyền của địch. Một số tướng giặc như Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ Ngọc …bị bắt. Thoát Hoan phải trốn chạy về nước bằng đường bộ Tư Minh…

Chiến thắng Bạch Đằng không chỉ nhấn chìm hàng chục vạn quân giặc, mà còn nhấn chìm cả ý đồ xâm lăng của chúng:

“Lính già từng trải mùi chinh chiến,

Nghe đến Nam Chinh ủ mặt mày”

(Ung Châu – Nguyễn Trung Ngạn)

Vua Trần Nhân Tông không chỉ là bậc quân vương có biệt tài lãnh đạo giữ nước, mà việc trị quốc yên dân cũng có những nhạy bén, giải quyết thấu đáo mọi việc từ nội trị đến ngoại giao.

Sự nhìn nhận sáng suốt để tìm người hiền tài, gánh vác đại sự trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, càng chứng minh nếp nghĩ hơn người của Hoàng đế Nhân Tông khi mà tiến phong Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn làm Quốc Công Tiết Chế. Sau quá trình gian lao vào sinh ra tử, thấy rõ đức độ, tài năng, nhất là ý thức Trung và Hiếu hết sức đúng mực của Hưng Đạo Vương mới rõ thêm tài năng của đức Vua - một con người “Xem trải mọi sách, thông nội ngoại điển”. Càng kính trọng bản lĩnh “Trị quốc - Bình thiên hạ” của đấng quân Vương trẻ trung và tài đức.

 Sau thời gian chiến tranh, đôi ba lần mùa màng thất bát, nhân dân nhiều người phải bán ruộng đất, thậm chí bán cả con trai, con gái đi làm nô tì. Trước tình cảnh đó Vua Trần Nhân Tông xuống chiếu chẩn cấp và miễn thuế cho dân nghèo …

Ngày 9 tháng 3 năm Quý Tỵ 1293 Vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho con là hoàng tử Thuyên, tức Hoàng đế Trần Anh Tông, lên làm Thái thượng hoàng.

Tháng 8 - 1299, Thượng hoàng xuất gia, lên núi Yên Tử (Quảng Ninh) tu hành và sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm, mang pháp danh là Điều Ngự Đầu Đà hay Hương Vân Đại Đầu Đà, thưòng gọi là Điều Ngự Giác Hoàng – dòng thiền mang tính nhập thế, tính dân tộc, tính nhân bản rất cao và do uy tín của Trúc Lâm đệ nhất tổ nên đã quy tụ được mọi tông phái Phật giáo Đại Việt thành một tổ chức Phật giáo thống nhất của cả nước.

Theo sách Trúc Lâm tôn chỉ nguyên thanh của Ngô Thì Nhậm, thì Yên Tử là nơi có một vị trí quân sự quan trọng, là vọng gác tiền tiêu của đất nước và Trần Nhân Tông khoác áo cà sa đến đây tu hành là để làm nhiệm vụ của một người "lính Biên phòng". Sách đó có đoạn viết: "Mọi người thấy đức Điều Ngự là tổ thứ nhất khi ra ở chùa Hoa Yên (tức chùa Yên Tử) thì cho là ngài xuất gia, nhưng có biết đâu đương lúc bấy giờ đức Tổ ta biết lấy thiên hạ làm của công...Xét thấy Yên Tử là một ngọn núi cao, phía Đông có thể nhòm mặt tỉnh Yên, tỉnh Quảng; phía Bắc có thể trông tới Lạng Sơn, Lạng Giang, nên mới dựng tự viện, thường qua lại xem chuyện động tĩnh, khiến cho quân giặc ở ngoài không thể gây những việc đáng lo ngại. Đó thực là Vô lượng lực Đại thế chí Bồ Tát vậy...".

Năm 1301, với cương vị một đại sư, Ngài đã vân du nhiều nơi rồi sang thăm Chămpa, đi và về trong 8 tháng. Chính trong cuộc viếng thăm  đặc biệt này, Ngài đã hứa gả công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân. Cuộc hôn nhân đó đã được thực hiện năm 1306, Vua Trần Anh Tông gả công chúa Huyền Trân cho vua Chế Mân và Chămpa đem hai châu Ô, Lý làm lễ vật dẫn cưới. Một quyết sách ngoại giao của Thượng hoàng Trần Nhân Tông sau khi xuất gia đã được thực thi không phải chỉ dẫn đến sự mở rộng lãnh thổ về phía Nam, mà kết quả quan trọng bậc nhất là thắt chặt quan hệ bang giao, tin cậy giữa hai nước láng giềng …Dân gian đã để lại đôi câu đối tán tụng công đức của các Vua Trần ở cổng Ngũ môn – đền Trần – phường Lộc Vượng – TP Nam định như sau:

“Bảo quốc hộ dân ngoại tặc chí kim do bạch phát

Nhân hòa đức trị nội bang tự cổ hạ hoàng ân”

 Dịch nghĩa:  “Giữ nước an dân giặc ngoại tới nay đầu khiếp trắng

Dùng nhân lấy đức khắp nơi từ trước thấm ơn Vua”

anh tin bai

Chùa Phổ Minh – phường Lộc Vượng – TP Nam Định 

Là một vị Vua yêu nước và anh hùng, là Đệ nhất Tổ của Trúc Lâm tông phái, Đức quân vương Trần Nhân Tông đã góp phần to lớn vào việc xây dựng Đại Việt trở thành một quốc gia có nền văn hóa, văn minh độc lập và trở nên hùng mạnh ở thế kỷ thứ XIII – XIV.

Hơn 700 năm đã trôi qua, lịch sử Việt Nam luôn tri ân công đức của Ngài, vì những cống hiến to lớn cho đất nước, dân tộc Việt Nam ngưỡng mộ vị Vua anh minh, hiền đức, Phật giáo Việt Nam tự hào về một ông “vua Phật” – đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông.

Sưu tầm, biên tập

Vũ Thị Tuyết Mai

BQL khu DTLSVH Đền Trần – Chùa Tháp TP Nam Định

Tài liệu tham khảo:

1. Đại Việt sử ký toàn thư, tập I, NXB văn học, Hà Nội, 2006

 2. Mười vị Hoàng đế nhà Trần, Sở VHTT Nam Định, 2008


Cổng thông tin Điện tử Thành phố Nam Định
Giấy phép số 100/GP-TTDT do Cục Quản lý phát thanh truyền hình và thông tin điện tử - Bộ thông tin truyền thông cấp ngày 14/5/2010
Đơn vị chủ quản: UBND thành phố Nam Định Trụ sở: Số 10 Đường Trần Đăng Ninh, thành phố Nam Định
Tel:0228.3849224 - Fax: 0228.3831922 - Email: tpthanhpho@namdinh.gov.vn

Thiết kế VNPT Nam Định


Chung nhan Tin Nhiem Mang